Trong bối cảnh Trung ương đặt mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với khát vọng tăng trưởng kinh tế hai con số, TP.HCM - đầu tàu kinh tế của cả nước cũng xác lập mục tiêu này trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ I.
Trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM, chuyên gia Đỗ Thiên Anh Tuấn, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright Việt Nam, cho rằng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, TP.HCM phải đi tiên phong trong kiến tạo các không gian kinh tế mới, ngành nghề mới và mô hình phát triển mới cho cả nước, trở thành “phòng thí nghiệm thể chế” cho những đột phá phát triển mang tính dài hạn và lan tỏa.
Định hình những mô hình kinh tế mới
. Phóng viên: Trong giai đoạn phát triển mới, TP.HCM đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng hai con số tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ I. Ông đánh giá sao về mục tiêu này?
+ Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn: Tôi cho rằng mục tiêu này cần được nhìn nhận trước hết như một thông điệp quyết tâm và một tuyên ngôn về khát vọng phát triển của đất nước.
Đối với TP.HCM, việc đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số vừa phản ánh vai trò, trách nhiệm của đầu tàu, vừa cho thấy sự chủ động của TP trong đón bắt không gian và động lực phát triển mới. TP.HCM không chỉ tăng trưởng cho riêng mình mà còn tạo sức lan tỏa cho toàn vùng và cả nền kinh tế.
Trong bối cảnh TP sau hợp nhất có quy mô lớn hơn, cấu trúc kinh tế đa dạng hơn và nhiều cơ chế đặc thù được Trung ương trao cho, việc đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao là phù hợp để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế và vị thế của TP.
Dĩ nhiên tăng trưởng hai con số phải gắn chặt với yêu cầu tái cấu trúc mô hình phát triển theo chiều sâu. Động lực tăng trưởng của TP trong giai đoạn tới được kỳ vọng đến từ nâng cao năng suất lao động, phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao, kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo cũng như cải thiện năng lực quản trị nhà nước…
Bên cạnh đóng góp tỉ trọng GDP lớn, TP.HCM còn có vai trò mở ra những không gian tăng trưởng mới, tạo các động lực phát triển mới và định hình những mô hình kinh tế mới cho cả nước. Chính vì vậy, TP.HCM phải là trung tâm kiến tạo tương lai kinh tế của Việt Nam chứ không chỉ dừng ở vị trí trung tâm kinh tế quốc gia. Điều này đòi hỏi TP phải đi trước trong nhận diện và phát triển những lĩnh vực chưa được khai thác đầy đủ, những ngành đang hình thành, những không gian phát triển còn bị đóng băng bởi rào cản thể chế.
Năm không gian kinh tế mới
. Với khát vọng tăng trưởng mới, dư địa hiện tại của đầu tàu TP.HCM có đủ sức tạo cú hích lớn?
+ Xét về dư địa tăng trưởng, nếu chỉ nhìn vào các chỉ tiêu truyền thống như quỹ đất, dân số, có thể thấy TP.HCM đang tiệm cận ngưỡng phát triển. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn, dư địa thực sự của TP nằm ở các không gian kinh tế mới chưa được tổ chức và khai thác đúng tầm.
Đầu tiên là về không gian kinh tế số và dữ liệu. TP.HCM hội tụ hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ, tài chính, thương mại điện tử, dịch vụ lớn nhất cả nước cùng thị trường tiêu dùng khổng lồ. Nếu TP đi đầu trong xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung, khung pháp lý thử nghiệm và thúc đẩy thị trường cho các dịch vụ số…, đây có thể trở thành một trụ cột tăng trưởng mới không bị giới hạn bởi không gian vật lý.
Thứ hai là về không gian kinh tế tài chính và dịch vụ chuyên sâu. TP.HCM có lợi thế để phát triển mô hình IFC với các dịch vụ tài chính, bảo hiểm, quản lý tài sản, fintech, dịch vụ pháp lý và tư vấn chất lượng cao cho cả thị trường trong nước và khu vực. Nếu được tổ chức bài bản, chuyên nghiệp, tôi tin đây sẽ là nguồn tăng trưởng mới và lan tỏa mạnh mẽ cho toàn bộ nền kinh tế.
Thứ ba là về không gian kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa. TP là trung tâm lớn nhất nước về truyền thông, giải trí, thiết kế, quảng cáo, nội dung số… nhưng phần lớn giá trị hiện nay vẫn còn manh mún, phi chính thức và chưa được định vị như một ngành kinh tế chiến lược. Tôi cho rằng nếu được đầu tư đúng mức về hạ tầng, bản quyền, thị trường…, công nghiệp văn hóa của TP hoàn toàn có thể trở thành ngành tăng trưởng nhanh.
Thứ tư là không gian kinh tế biển. Trong cấu trúc mới, TP có cơ hội phát huy lợi thế nền kinh tế đại dương gắn với hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải - Cần Giờ, dịch vụ hàng hải, thương mại quốc tế… Các lĩnh vực như vận tải thông minh, dịch vụ cảng giá trị gia tăng, kinh tế biển gắn với chuyển đổi xanh… vẫn còn rất nhiều tiềm năng.
Thứ năm, TP.HCM có điều kiện để phát triển các mô hình đô thị gắn với giao thông công cộng, trung tâm đổi mới sáng tạo, các cực tăng trưởng mới ngoài lõi đô thị truyền thống. TP phải mạnh dạn tổ chức lại không gian đô thị theo hướng tích hợp giữa hạ tầng, nhà ở, dịch vụ đô thị và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, thử nghiệm các mô hình tái cấu trúc không gian đô thị mới, chẳng hạn như sáng kiến gộp đất.
Làm được như vậy, TP có thể tạo ra tăng trưởng đáng kể từ chính hiệu quả sử dụng đất và hạ tầng đô thị thay vì chỉ mở rộng diện tích, tìm kiếm những khu đất mới chưa được khai thác.
Mở khóa nguồn lực bị kẹt bởi thể chế
. Vậy để mở khóa các nguồn lực đang tắc nghẽn, TP.HCM cần vận dụng cơ chế, chính sách nào?
+ Thời gian tới, theo tôi, TP.HCM cần tập trung vào ba nhóm là cơ chế đặc thù để tăng quyền chủ động và tốc độ ra quyết định; huy động và dẫn dắt vốn xã hội thay vì chỉ dựa vào ngân sách và tái cấu trúc không gian phát triển để tạo ra các cực tăng trưởng mới.
TP.HCM sẽ dựa vào các cơ chế đặc thù như Nghị quyết 260 (sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 98)… để tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là làm chậm trễ việc quyết định và phân mảnh trách nhiệm. Một nền kinh tế đô thị quy mô lớn như TP.HCM mà vẫn áp dụng quy trình “xin-cho” sẽ làm kéo dài thời gian, gây lãng phí nguồn lực và đánh mất cơ hội phát triển. Vì vậy, các cơ chế phân cấp, phân quyền cần được TP tận dụng hiệu quả hơn nữa.
Một vấn đề khác là TP phải vận dụng hiệu quả, sáng tạo, linh hoạt các cơ chế để huy động vốn xã hội cùng tham gia, đặc biệt thông qua mô hình PPP và các công cụ tài chính đô thị hiện đại.
Nguồn lực bị tắc nghẽn lớn nhất lâu nay của TP.HCM không phải là thiếu tiền mà là tiền không chuyển thành vốn, không chảy vào cơ sở hạ tầng, các lĩnh vực trọng yếu do lo ngại rủi ro pháp lý. Vì vậy, TP cần tận dụng tối đa các cơ chế cho phép làm PPP theo hướng chuyên nghiệp hơn, nhất là cơ chế chia sẻ rủi ro với nhà đầu tư.
Các cơ chế gắn phát triển hạ tầng với khai thác giá trị gia tăng của đất đai, như TOD, cơ chế thu hồi và tái phân bổ một phần giá trị tăng thêm từ đất do hạ tầng tạo ra… cũng cần được tận dụng nhằm tạo dòng tiền bền vững cho đầu tư.
Một điểm nghẽn rất cũ nhưng vẫn dai dẳng là tình trạng đứt gãy trong liên kết không gian phát triển, khiến nguồn lực không thể phát huy sức mạnh tổng hợp. Tăng trưởng hai con số đòi hỏi TP.HCM phải tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng tích hợp, kết nối các cực sản xuất, hậu cần, cảng biển, đô thị, dịch vụ… trong một không gian thống nhất. Các cơ chế chính sách phải làm sao để đảm bảo tính đồng bộ về quy hoạch, trách nhiệm phối hợp liên ngành, liên vùng thay vì phân tán theo từng đơn vị quản lý như trước.
Song song đó, để tạo đà tăng tốc, TP.HCM cần vận dụng các cơ chế chính sách mở khóa nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, tức là thúc đẩy tăng trưởng theo chiều sâu. Cuối cùng, tôi cho rằng cơ chế quan trọng nhất là hình thành một nguyên tắc điều hành xuyên suốt, lấy hiệu quả làm thước đo, lấy trách nhiệm giải trình làm kỷ luật và lấy tốc độ triển khai làm cơ sở đánh giá năng lực.
Cơ chế đặc thù đã có song chỉ khi TP.HCM vận dụng cơ chế đặc thù theo tinh thần đó thì mới có thể biến thẩm quyền thành kết quả, giúp TP huy động thêm nguồn lực và làm cho nguồn lực được phân bổ đúng chỗ, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.
Kiến tạo hệ sinh thái kinh tế đa trung tâm
. Với mô hình phát triển mới “3 vùng - 1 đặc khu - 3 hành lang - 5 trụ cột”, TP.HCM cần làm gì để cộng hưởng lợi thế với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ nhằm tạo đột phá tăng trưởng thực sự?
+ Mô hình “3 vùng - 1 đặc khu - 3 hành lang - 5 trụ cột” cho thấy lãnh đạo nhìn TP.HCM mới như một hệ sinh thái kinh tế đa trung tâm, trong đó mỗi tiểu vùng có chức năng rõ ràng, các hành lang là mạch kết nối, còn các trụ cột là động cơ tăng trưởng mới.
Nếu coi sáp nhập là mở rộng địa giới thì mô hình này giúp tránh rơi vào tư duy cộng cơ học các địa phương lại. Còn nếu coi sáp nhập là tái cấu trúc không gian phát triển thì mô hình này tạo ra một khung tư duy nhằm tổ chức lại nguồn lực và năng lực cạnh tranh của TP.
Mô hình sẽ rất hiệu quả nếu nó trả lời được ba câu hỏi cụ thể: Mỗi vùng đảm nhiệm chức năng gì trong chuỗi giá trị; các hành lang được đầu tư theo thứ tự ưu tiên nào để thúc đẩy dòng chảy hàng hóa, lao động, vốn và năm trụ cột được lập trình thành chương trình hành động, có dự án, có nguồn lực, KPI và có người chịu trách nhiệm thế nào?
Và để tận dụng tối đa lợi thế cộng hưởng từ Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu, TP.HCM cần tập trung khai thác lợi thế tích hợp của từng địa bàn thay vì lợi thế riêng lẻ. Trong đó, cần thiết lập cơ chế điều phối nguồn lực đủ mạnh, hoạt động theo nguyên tắc “một chiến lược - một quy hoạch tích hợp - một chương trình đầu tư”. Việc điều phối phải có thực quyền, có cơ chế ra quyết định nhanh và cơ chế giám sát kết quả.
Kế đến, ưu tiên đầu tư các hành lang theo tiêu chí tạo dòng chảy kinh tế nhanh nhất. Hành lang nào làm giảm chi phí giao dịch lớn nhất, giải tỏa nút thắt kết nối quan trọng nhất, tạo điều kiện hình thành cực tăng trưởng mới rõ rệt nhất thì phải được ưu tiên trước.
TP cũng phải xây dựng các cụm dự án tích hợp để tạo cộng hưởng, thay vì từng dự án rời rạc theo ngành hay địa bàn. Ví dụ, một cụm dự án cảng biển, hậu cần, công nghiệp, dịch vụ tài chính thương mại; hay cụm dự án công nghiệp công nghệ cao, R&D, đào tạo nhân lực, quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo…
Ngoài ra, phải khai thác hiệu quả hạ tầng số và dữ liệu như một nền tảng thống nhất. TP.HCM cần bộ dữ liệu lớn để khai thác hiệu quả siêu trí tuệ nhân tạo trong quy hoạch, đầu tư, đất đai, giao thông, môi trường và thủ tục hành chính. Dữ liệu phải được tích hợp, liên thông, minh bạch, có thể chia sẻ nhằm giảm chi phí giao dịch và tăng tốc độ ra quyết định.
. Xin cảm ơn ông.
Đòn bẩy để chuyển mô hình tăng trưởng
Theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, trong tổng thể câu chuyện tăng trưởng hai con số và tái cấu trúc mô hình phát triển của TP.HCM mới, Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM (IFC) chính là đòn bẩy để chuyển mô hình tăng trưởng từ dựa nhiều vào vốn vật chất sang dựa nhiều hơn vào phân bổ vốn hiệu quả.
Một IFC vận hành hiệu quả sẽ giúp TP.HCM thu hút các định chế tài chính lớn, các quỹ đầu tư, các nhà đầu tư tổ chức và các dòng vốn chuyên biệt cho hạ tầng, công nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế biển… “Quan trọng là chi phí vốn cho nền kinh tế phải giảm, kỳ hạn vốn dài hơn và cấu trúc tài chính linh hoạt hơn. Khi đó tăng trưởng sẽ cao hơn và bền vững hơn” - ông Tuấn nhấn mạnh.
Vị chuyên gia nhìn nhận IFC có ý nghĩa rất lớn trong nâng cấp chất lượng thể chế và quản trị của TP.HCM. Một IFC hiệu quả chỉ có thể đi kèm chuẩn mực cao về pháp lý, minh bạch, quản trị rủi ro, giải quyết tranh chấp, bảo vệ nhà đầu tư và kỷ luật thị trường.
Trong cấu trúc “3 vùng - 1 đặc khu - 3 hành lang - 5 trụ cột” mà lãnh đạo TP.HCM xác định, IFC là trụ cột mang tính kết nối và dẫn dắt, giúp liên kết công nghiệp của Bình Dương, kinh tế biển của Bà Rịa-Vũng Tàu cùng hệ sinh thái dịch vụ và đổi mới sáng tạo của TP thành một chỉnh thể thống nhất.